Điện than gánh thêm nhu cầu tháng 10
Reuters dẫn tính toán từ dữ liệu hằng ngày của Grid-India cho biết điện than tăng 25,7% so với tháng 10 năm trước. Tỷ trọng trong tổng sản lượng đạt 71,7%, so với 66,03% tháng 9. Con số đầu phản ánh tăng trưởng hằng năm; hai tỷ trọng phản ánh cơ cấu giữa hai tháng liền kề. Chênh lệch giữa hai tỷ trọng là 5,67 điểm phần trăm, không phải mức tăng 25,7% được dùng để mô tả sản lượng điện than so với năm trước.
Tổng sản lượng điện tháng 10 đạt 172,53 tỷ kWh, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Reuters liên hệ nhu cầu tăng với hoạt động công nghiệp. Mức phát điện cao hơn cho thấy hệ thống đã cung cấp thêm năng lượng, nhưng chưa tự trả lời điện có đến đủ mọi địa bàn, mọi thời điểm hay không.
Việc than chiếm gần 72% sản lượng thể hiện vai trò lớn của nguồn này trong tháng được thống kê. Không nên từ đó kết luận toàn bộ chiến lược năng lượng đã đổi hướng. Muốn đánh giá xu thế dài hơn cần chuỗi số liệu nhiều tháng, cùng thông tin về thời tiết và vận hành.
Thủy điện giảm làm bài toán cân đối khó hơn
Sản lượng thủy điện giảm 26%, mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 2 năm 2024, theo bản tin. Reuters gắn sự suy giảm với lượng mưa yếu do hiện tượng El Niño. Khi đóng góp từ nước giảm trong lúc nhu cầu tăng, những nguồn còn lại chịu thêm sức ép đáp ứng điện.
Ảnh hưởng của thời tiết nhắc rằng có nhà máy không đồng nghĩa luôn có cùng lượng điện để phát. Với thủy điện, điều kiện nguồn nước quan trọng bên cạnh thiết bị. Tuy vậy, bản tin không cung cấp số liệu từng hồ hoặc lịch vận hành, nên chưa thể phân bổ mức giảm cho từng nguyên nhân cụ thể.
Tháng 10 cho thấy nhu cầu đánh giá các nguồn trong cùng một hệ thống. Điện mặt trời tăng không tự cho biết có thay thế đúng thời điểm thủy điện thiếu hay không. Dữ liệu tháng phản ánh tổng lượng, trong khi việc cân đối điện còn cần quan sát diễn biến theo giờ và khả năng truyền tải.
Dự trữ nhiên liệu từng chịu sức ép
Có thời điểm trong tháng 10, 100 trong 191 nhà máy điện than có lượng nhiên liệu dự trữ ở mức thấp nghiêm trọng. Đây là trạng thái được ghi nhận trong tháng, không phải xác nhận tất cả còn ở mức đó ngày 1 tháng 11. Nó cũng không có nghĩa 100 nhà máy đã ngừng phát.
Reuters cho biết tình hình đã dịu sau khi chính phủ tăng cung ứng than với tốc độ kỷ lục để hỗ trợ phát điện. Nhiên liệu cần tới nhà máy kịp nhu cầu sử dụng. Sản lượng tăng và dự trữ mỏng có thể cùng xuất hiện khi tốc độ tiêu thụ than tăng nhanh.
Tháng 9, lượng điện thiếu lên 560 triệu kWh, cao nhất kể từ tháng 8 năm 2023. Bản tin nói thiếu hụt đã giảm phần nào nhờ điện than tăng và thời tiết mát hơn cuối tháng 10. Chưa có trong nội dung này một con số thiếu hụt tháng 10 để khẳng định vấn đề đã được giải quyết hoàn toàn.
Điện tái tạo tăng nhưng cần đọc đúng tỷ trọng
Sản lượng điện tái tạo tháng 10 tăng 34,7% so với cùng kỳ, đạt 26,61 tỷ kWh; điện mặt trời tăng 62%. Trong khi đó, tỷ trọng nhóm nguồn được bản tin báo cáo vào khoảng 15%, thấp hơn mức 17% tháng 9. Cần giữ đúng phạm vi thống kê, tránh xem đây là tỷ trọng mọi nguồn điện phi hóa thạch.
Điểm dễ nhầm là lấy tăng trưởng hằng năm để giải thích ngay biến động tỷ trọng hằng tháng. Mức tăng 34,7% của điện tái tạo thực tế cao hơn mức 21,1% của tổng điện khi cùng so với năm trước. Vì vậy, không thể nói tỷ trọng giảm vì tổng sản lượng tăng nhanh hơn điện tái tạo dựa trên hai mức tăng này.
Phép chia 26,61 cho 172,53 cho kết quả khoảng 15,4%, phù hợp với cách làm tròn khoảng 15% trong bản tin. Tuy nhiên, để giải thích đầy đủ thay đổi từ tháng 9 cần số liệu cùng phạm vi của tháng đó. Tăng thêm kWh và tăng phần trăm trong cơ cấu là hai kết quả cần theo dõi riêng.
Độ tin cậy cần được nhìn cùng quá trình chuyển đổi
Với nhà máy sản xuất và hộ gia đình, ý nghĩa thực tế nằm ở khả năng nhận điện ổn định. Các số liệu hiện có không cho phép xác định ai mất điện hoặc thiệt hại bao nhiêu. Chúng cho thấy sức ép phối hợp nguồn phát, nhiên liệu và nhu cầu khi thời tiết làm giảm một nguồn điện quan trọng.
Một tháng dựa nhiều hơn vào than chưa đủ để kết luận điện tái tạo không hiệu quả, cũng chưa đủ để bảo đảm những tháng sau sẽ dễ cân đối. Điều cần theo dõi là lượng điện thực phát, dự trữ nhiên liệu và mức thiếu hụt được đo cùng kỳ. Những chỉ dấu đó giúp đánh giá cả tiến bộ mở rộng nguồn lẫn khả năng vận hành.















