Khi lạm phát giảm, ký ức về giá cao vẫn còn
Một trong những phát hiện đáng chú ý nhất của IMF là kỳ vọng lạm phát không trở lại bình thường ngay khi cú sốc giá qua đi. Dữ liệu của tổ chức này cho thấy kỳ vọng lạm phát trong ngắn và trung hạn tăng mạnh trong các cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt và vẫn cao hơn đáng kể so với trước khủng hoảng sau ba năm. Ngay cả kỳ vọng lạm phát cho năm năm tới cũng tăng nhẹ lúc đầu và tiếp tục duy trì ở mức cao hơn bình thường nhiều năm sau đó. Điều này quan trọng vì kỳ vọng có thể ảnh hưởng tới yêu cầu tiền lương, hành vi định giá của doanh nghiệp và quyết định lãi suất của ngân hàng trung ương.
Nói cách khác, một cú sốc thực phẩm hoặc năng lượng có thể kết thúc về mặt thống kê trước khi nó kết thúc trong tâm lý kinh tế. Khi người dân đã trải qua nhiều lần giá điện, xăng, sữa hoặc bánh mì tăng mạnh, họ có xu hướng cho rằng các đợt tăng tiếp theo sẽ lặp lại. Doanh nghiệp cũng dễ phòng thủ bằng cách tăng giá sớm hơn hoặc giữ biên lợi nhuận cao hơn. Nếu niềm tin vào khả năng kiểm soát giá suy yếu, ngân hàng trung ương có thể phải giữ lãi suất cao lâu hơn, làm tăng chi phí vay mua nhà, đầu tư và sản xuất.
Người nghèo chịu một loại lạm phát khác với con số trung bình
Chỉ số giá tiêu dùng truyền thống đo một “rổ hàng hóa” đại diện cho toàn bộ dân số, nhưng cấu trúc chi tiêu của hộ giàu và hộ nghèo rất khác nhau. Người thu nhập thấp dành phần lớn ngân sách cho thực phẩm, điện, nhiên liệu, tiền thuê nhà và đi lại - chính những mặt hàng thường tăng mạnh nhất trong khủng hoảng.
Hộ khá giả có tỷ trọng chi cho dịch vụ, tiết kiệm và tài sản cao hơn, nên mức lạm phát họ cảm nhận có thể thấp hơn con số mà một gia đình nghèo phải đối mặt.
Mô hình mới của IMF điều chỉnh cho khác biệt này và tìm thấy khoảng cách khoảng 0,8 điểm phần trăm so với chỉ số lạm phát chuẩn. Khi đưa chênh lệch đó vào tính toán mức sống, IMF ước tính thêm khoảng 23 triệu người đã rơi xuống dưới ngưỡng nghèo cùng cực trong giai đoạn 2021–2024 so với các ước lượng cũ. Kết quả này cho thấy một quốc gia có thể báo cáo lạm phát trung bình đang giảm nhưng vẫn có hàng triệu gia đình chưa cảm nhận được sự phục hồi, bởi giá của các nhu yếu phẩm thiết yếu vẫn ở mặt bằng cao.
“Khủng hoảng chi phí sinh hoạt tác động tới ổn định giá, làm giảm mức sống và làm trầm trọng bất bình đẳng.” Chiara Maggi.
Trợ cấp rộng có thể dễ thấy nhưng đắt và kém chính xác
IMF xem xét khoảng ba thập niên chính sách ứng phó của các chính phủ và kết luận rằng chuyển tiền tạm thời, có mục tiêu cho những hộ dễ tổn thương thường là lựa chọn hiệu quả nhất. Cách này cho phép chính phủ bảo vệ thu nhập thực của người nghèo mà không xóa bỏ hoàn toàn tín hiệu giá. Khi nhiên liệu đắt vì khan hiếm, giá cao vẫn khuyến khích tiết kiệm và đầu tư vào nguồn thay thế, trong khi người thu nhập thấp nhận hỗ trợ để vượt qua giai đoạn khó khăn.
Ngược lại, các biện pháp ép giá xuống như kiểm soát giá hoặc giảm thuế tiêu dùng diện rộng có thể tốn ngân sách gấp ba đến sáu lần. Trợ cấp cho nhà sản xuất thậm chí có thể đắt gấp khoảng 22 lần so với chuyển tiền có mục tiêu. Ở các nền kinh tế xuất khẩu, một phần trợ cấp sản xuất còn có thể làm giảm giá hàng hóa bán ra nước ngoài, nghĩa là người nộp thuế trong nước vô tình hỗ trợ người tiêu dùng ở quốc gia khác. IMF vì thế nhấn mạnh chính sách cứu trợ cần đúng người, có thời hạn và được thiết kế từ trước khủng hoảng.
Cú sốc mới đang đến trong lúc nhiều nước đã cạn dư địa
Bài nghiên cứu xuất hiện khi thế giới vừa trải qua chuỗi cú sốc nối tiếp: đại dịch, chiến tranh Nga–Ukraine, đứt gãy chuỗi cung ứng và năm 2026 là chiến tranh tại Trung Đông. Giá dầu và sản phẩm tinh chế tăng mạnh đã làm nhiều nền kinh tế nhập khẩu năng lượng chịu áp lực mới. IMF vẫn dự báo tăng trưởng toàn cầu khoảng 3% năm 2026, nhưng mức này thấp hơn trung bình 3,5% của năm 2024 và 2025, trong khi các nước thu nhập thấp phải đối mặt đồng thời với nợ cao và chi phí vay tăng.
Nhà kinh tế Shantayanan Devarajan cảnh báo rằng cải cách mạng lưới an sinh thường trở nên khó nhất đúng lúc khủng hoảng đã bùng phát. Vì thế, các nước cần xây hệ thống đăng ký hộ gia đình, hạ tầng thanh toán số, dữ liệu thu nhập và cơ chế chuyển tiền từ trước. Nếu chính phủ chỉ bắt đầu xác định ai cần hỗ trợ khi giá nhiên liệu đã tăng gấp đôi, phản ứng sẽ chậm, đắt và dễ bị chính trị hóa. Bài học của IMF không phải là ngừng giúp người dân, mà là giúp theo cách bảo vệ được người yếu thế mà không biến cú sốc tạm thời thành gánh nặng ngân sách và lạm phát lâu dài.















